Khóa cơ bản 515

"Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (TRIZ mở rộng)"

Khai giảng: thứ tư, 02/10/2019

Giờ học: 17g45 - 20g45

Ngày học: tối thứ hai, tối thứ tư và tối thứ sáu

Thời gian học: 60 tiết

Học phí hiện nay: 1.200.000 đồng (bao gồm cả tài liệu học tập).

Chiêu sinh tất cả mọi người có trình độ văn hóa lớp 12 trở lên, không phân biệt tuổi, nghề nghiệp chuyên môn, chức vụ...

Điện thoại:(028) 38301743

Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học do Trường đại học khoa học tự nhiên thuộc Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh cấp.

Để biết các ích lợi của môn học, bấm vào đây

Chương trình học bấm vào đây

Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học do Trường đại học khoa học tự nhiên thuộc Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh cấp.

Báo tường mới nhất

BTSK số 1/2017 (73) ra tháng 3 năm 2017

Toàn bộ

+ Tin TSK - Tin thế giới

+ Thế giới từ góc nhìn sáng tạo: 10 phát minh "không tưởng" của Nicola Tesla

+ Đa dạng: Bên trong trung tâm dữ liệu của Facebook

+ Sản phẩm sáng tạo



BTSK số 3/2008

Bấm vào đây để xem bản đầy đủ

Số 3/2008 (39) ra tháng 9 năm 2008

1. Tin TSK và Tin BLL

2. Tin thế giới

3. Thế giới dưới góc nhìn sáng tạo

4. Thành công PPLST

5. Cùng nhau luyện tập

6. Bài toán ý tưởng

7. Đa dạng

Trình bày: Nguyễn Hoàng Tuấn

Báo tường TSK gồm các bài viết của các thầy và các học viên Trung tâm Sáng tạo KHKT (TSK) thuộc Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia TPHCM.

Báo tường TSK thực hiện các nhiệm vụ sau :

1. Cung cấp các thông tin về các hoạt động đa dạng liên quan đến Khoa học sáng tạo (KHST) nói chung và Phương pháp luận sáng tạo (PPLST) nói riêng ở Việt Nam và trên thế giới.

2. Là diễn đàn trao đổi của các thầy và các học viên PPLST nhằm tăng cường sự gắn bó, nâng cao trình độ hiểu biết và sử dụng PPLST.

3. Giúp phổ biến và phát triển KHST, PPLST ở nước ta để có được những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, "sánh vai với các cường quốc năm châu", ít ra, trong lĩnh vực này.

Báo tường TSK là sự đóng góp chung của mọi người trên nguyên tắc tự nguyện, không vụ lợi, tự trang trải nên không có chế độ nhuận bút.

Các bạn có thể đọc Báo tường TSK bản gốc với màu sắc đầy đủ, được dán trên bảng tại hành lang TSK hoặc trên Website của TSK

CÁC BẠN HỌC VIÊN VÀ CỰU HỌC VIÊN GỬI BÀI, CÁC Ý KIẾN ĐÓNG GÓP, NGUYỆN VỌNG ..., XIN THEO ĐỊA CHỈ SAU :

TRUNG TÂM SÁNG TẠO KHKT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN,

227 NGUYỄN VĂN CỪ, Q.5, TPHCM

ĐT : 38.301743 FAX : 38.350096 E-mail : Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Website của TSK trên Internet:

http://www.hcmus.edu.vn/CSTC/home-v.htm (Tiếng Việt)

http://www.hcmus.edu.vn/CSTC/home-e.htm (Tiếng Anh)

Tin TSK

· Khóa cơ bản 325 Phương pháp luận sáng tạo dành cho sinh viên năm thứ hai, Khoa khoa học vật liệu, Trường đại học khoa học tự nhiên Tp. HCM khai giảng ngày 01/09/2008.

· Khóa cơ bản 326 Phương pháp luận sáng tạo dành cho học viên cao học ngành quản trị kinh doanh, Trường đại học dân lập Bình Dương, khai giảng ngày 15/09/2008. Đây là trường dân lập đầu tiên của cả nước dạy môn học Phương pháp luận sáng tạo cho bậc sau đại học.

· Khóa cơ bản 327 Phương pháp luận sáng tạo dành cho sinh viên năm thứ hai, Khoa quan hệ quốc tế, Trường đại học dân lập ngoại ngữ và tin học thành phố HCM (HUFLIT) khai giảng ngày 19/09/2008.

· Khóa cơ bản 328 Phương pháp luận sáng tạo tại TSK sẽ khai giảng ngày 24/10/2008, học vào các buổi tối thứ hai, thứ sáu hàng tuần.

Tin BLL

o Ban Liên Lạc (BLL) sinh hoạt đều đặn vào chiều thứ bảy hàng tuần. Trong quý III, các thảo luận tập trung vào vấn đề như kẹt xe, môi trường, an toàn thực phẩm.

o BLL chuẩn bị tổ chức họp mặt truyền thống lần thứ 11, BLL rất mong nhận được từ các bạn cựu học viên những đóng góp tích cực để lần họp mặt này thật có ý nghĩa.

o Thời gian tổ chức Họp mặt truyền thống lần thứ 11: Chủ nhật, ngày 23 tháng 11, bắt đầu từ 8 giờ sáng.

o Địa điểm dự tính: 45 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1. (Căn tin, trường cán bộ quản lý Nông Nghiệp, đối diện Đài Truyền Hình TP).

o Mọi đóng góp xin liên hệ anh Lê Hoài Việt ĐT : 0903.612.533

email : Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Tin thế giới

Innovation Training and Events Calendar

Sep 3, 2008

Introduction to TRIZ and Systematic Innovation for Business and Management Utrecht, Netherlands

Sep 8, 2008

Designing and Manufacturing Better Products Faster Using TRIZ/Basic – Advanced TRIZ Workshop Seattle, Washington, U.S.

Sep 8, 2008

Innovation (PEM and TRIZ) Colorado Springs, Colorado, U.S.

Sep 8, 2008

Business Innovation Conference Naperville, lllinois, U.S.

Sep 8, 2008

Creativity and Innovation Unleash Your Potential for Greater Success New York, New York, U.S.

Sep 8, 2008

Innovation @ the front end San Diego, California, U.S.

Sep 10, 2008

Practical Innovation Using TRIZ to Accelerate Innovation Chicago, lllinois, U.S.

Sep 10, 2008

The Fourth TRIZ Symposium in Japan Kyoto, Japan

Sep 12, 2008

Innovation Tools in Product Development Tampa, Florida, U.S.

Sep 15, 2008

3rd European Conference on Entrepreneurship

and Innovation Winchester, United Kingdom

Sep 15, 2008

Strategic Innovation as a Science The Definitive Process For Creating Sustainable Growth Detroit, Michigan, U.S.

Sep 15, 2008

Advanced Practice TRIZ Course Seattle, Washington, U.S.

Thế giới từ góc nhìn sáng tạo

Nhân một giờ quang học

Dương Ngọc Anh

Sáng nay tôi dạy bài mở đầu chương trình Quang học cho một cháu bé lớp 7 về sự truyền thẳng và tốc độ của ánh sáng với nội dung là "Trong môi trường trong suốt và đồng tính, ánh sáng truyền theo đường thẳng. Tốc độ truyền ánh sáng là 300.000 km/s", đơn giản và đại khái như thế thôi. Sau đó tôi ra cho cháu bé mấy bài tập.

1. Ông ngồi cách cháu 1 mét và nâng cốc nước lên mồm uống, hỏi bao lâu sau thì cháu thấy được cái việc uống cốc nước đó?

2. Đám mây kia, cho là cách chúng ta 1 km. Ở nó có chớp lóe. Hỏi bao lâu sau thì chúng ta thấy cái lóe chớp đó?

3. Ánh sáng phải mất 8 phút mới đi được từ Mặt trời đến Trái đất. Hỏi nếu ở Mặt trời có vụ nổ thì bao lâu sau chúng ta thấy được vụ nổ đó?

4. Ngôi sao kia cần 100 năm để gởi được ánh sáng đến Trái đất. Nếu bây giờ ta thấy ở đó có vụ nổ. Hỏi vụ nổ đó đã xảy ra trước đây bao lâu.

Các câu trả lời chỉ đơn giản là:

· 1/300.000.000 giây; 1/300.000 giây; 8 phút; 100 năm;

Bài toán đến đây hơi vui vui. Nhưng khi tôi nói thêm: "Vậy con nên nhớ rằng tất cả cuộc đời này mà con trông thấy đều là quá khứ. Đường đến sự vật càng dài khi quá khứ đó càng xa". Thì cậu bé thoáng ngạc nhiên và vui hẳn lên v.v... và cứ như thế bài học càng ngày càng vui.

Như ta đã thấy ở trên, thông tin ở trong bài này rất ít. Chúng chỉ nằm vẻn vẹn trong hai ý: đường truyền của ánh sáng và tốc độ truyền của ánh sáng. Nhiệm vụ dạy người đối với cậu bé lại nằm ở chỗ khác. Đó chính là phần bài tập và tư duy sau khi nhận thông tin, chủ yếu là ở cách dạy.

Tôi muốn giới thiệu với bạn đọc một đoạn do nhà văn Nguyên Ngọc trích dẫn dựa trên ý của Edgar Morin (tên thật là Edgar Nahoum), sinh tại Paris năm 1921, một nhà xã hội học và triết học. Đoạn trích đó được in ở bài "Giáo dục trong thế giới biến đổi", trên tuần báo Văn nghệ số 24 (14/06/2008) trang 9. Bạn đọc nào quan tâm đến giáo dục, cũng tức là quan tâm đến giáo dục óc sáng tạo có thể tìm đọc trực tiếp ở số báo nói trên. Vì sợ bài dài, sau đây tôi chỉ trích mấy dòng cuối của bài nói trên:

"Để kết thúc, tôi xin nhắc lại một câu của nhà văn Mỹ Tliot, ông kêu lên: "Minh triết đâu rồi, chỉ còn lại tri thức. Tri thức đâu rồi, chỉ còn lại thông tin!" Hình như nền giáo dục chúng ta đang để lại còn ít hơn thế nữa. Nó để lại những giai điệu cho người ta học thuộc lòng".

Thành công với PPLST

Tôi đưa con đi chữa bệnh - Những bài học!

Kim Dung

Tôi sinh con đầu lòng khi 43 tuổi, một thằng bé mà tôi yêu quý hơn cuộc đời tôi. Mỗi khi ngồi chơi với con, tôi thường hỏi cháu: "Con là cục gì của mẹ?", cháu đáp: "Là cục vàng khè của mẹ". Khi hỏi cháu: "Con yêu mẹ hay yêu ba?", cháu trả lời: "Con yêu ba mẹ", khi tôi hỏi lại: "Nhưng con yêu mẹ nhiều hơn hay yêu ba nhiều hơn?" cháu trả lời "con yêu ba mẹ", câu trả lời của đứa trẻ lên ba làm mát lòng cha mẹ!

Rồi một ngày tháng 7-2008, cháu kêu đau bụng, một cơn đau thoáng qua nhưng thường lặp lại. Như các bà mẹ khác, tôi đưa con đi khám bệnh ở những cơ sở được coi là tốt và sạch sẽ - Phòng khám nhi khoa Nancy. Tại đây, bác sĩ (xếp thứ nhất vì còn nhiều bác sĩ khác khám) chẩn đoán bị đau do rối loạn tiêu hoá và giun gây ra nên cho uống thuốc tẩy giun Zentel loại 200mg sau khi đã có kết quả siêu âm.

Mấy ngày sau, cháu đi học mẫu giáo lớp hè. Vì cháu lại kêu đau bụng và kèm theo việc đi phân sệt và có màu trắng nên tôi trở lại cơ sở điều trị cũ và chọn bác sĩ khác (bác sĩ thứ hai). Lần này, sau khi loại trừ đau bụng do giun, bác sĩ chẩn đoán nhiễm trùng tiêu hoá và cho thuốc Itadixic sp 100ml, Enterogermina 5ml. Vất vả lắm mới cho cháu uống được vì từ bé đến lớn, cháu hầu như chưa phải uống thuốc.

Sau hai ngày, sáng sớm ngày 6-8-2008 cháu kêu đau bụng và khóc dữ dội khiến cả nhà thất kinh bế cháu vào Bệnh viện nhi đồng I. Sau khi xét nghiệm máu, siêu âm, bác sĩ nghi trong người cháu có một ổ nhiễm trùng vì có một thành phần máu (WBC là 11.6×109 L) hơi cao, có thể là viêm ruột thừa và cho uống thuốc theo dõi. Phát hoảng vì chẩn đoán này, tôi trở lại cơ sở điều trị ban đầu, tại đây, bác sĩ (thứ tư) khẳng định không phải bị viêm ruột thừa mà bị rối loạn tiêu hoá và cho thuốc Debridat 100 mg, AirX 80mg và Itadixic sp 100ml. Sau bốn ngày uống thì cháu đi phân bình thường nhưng thỉnh thoảng vẫn còn kêu đau bụng.

Má chồng tôi nói phải đưa cháu đi khám chuyên khoa Tiêu hoá và nên đi tìm bác sĩ giỏi. Làm sao tìm bây giờ? Dò hỏi bạn bè, người ta chỉ ông bác sĩ Bạch Văn Cam trên đường Nguyễn Văn Cừ, Q.5 chữa bệnh trẻ con mát tay lắm. Lò dò đưa con đến khám thì gặp bác sĩ khác (bác sĩ thứ năm), thấy mặc áo bác sĩ của bệnh viện Nhi đồng I, nên tôi khám đại. Bác sĩ này chẩn đoán cháu bị rối loạn tiêu hoá và viêm bao tử (sau khi xem xét qua loa những xét nghiệm và siêu âm mà tôi đưa ra) nên cho uống thuốc Zantac 0,15g, Gluconate Zn 0,02g, Phosphalugel. Sau hai ngày uống, cháu không bớt và vẫn đi phân sền sệt.

Vì cơ sở tôi thường khám cho cháu không có bác sĩ chuyên khoa Tiêu hoá (ở đây, người ta nói bác sĩ nội tổng quát cũng khám được) nên tôi lại đưa cháu trở lại bệnh viện Nhi đồng I để khám dịch vụ (phí khám bệnh là 50 ngàn đồng), nhưng do đến trễ nên số thứ tự khám đã hết, vì vậy tôi chuyển qua khám "bình dân" với phí khám bệnh là 10 ngàn đồng.

Sau khi chờ gần 3 tiếng, bác sĩ (thứ sáu) khám cho cháu trong khoảng 40 giây với chẩn đoán rối loạn tiêu hoá và cho một toa thuốc mà nhà thuốc gần nhà đọc không được (vì chữ viết ẩu). Thấy bác sĩ khám nhanh quá, nên ngày hôm sau, tôi trở lại bệnh viện Nhi đồng I để khám dịch vụ với yêu cầu khám chuyên khoa Tiêu hoá. Khi ngồi chờ, thấy bảng đề khoa Sơ sinh nên đem thắc mắc hỏi mấy cô nhân viên y tế ngồi phía ngoài thì biết là do ngày nghỉ nên mượn tạm phòng này.

Bạn có bao giờ rơi vào cảnh chờ đợi trong khi con mình chút chút lại oằn oại kêu đau không? Còn tôi thì lòng nát tan và thời gian sao dài thế. Rồi cũng đến lượt khám. Ông bác sĩ này khá thân thiện (bác sĩ thứ bảy), sau khi khám xong ông cho đi siêu âm. Xem kết quả xong, bác sĩ này cho một toa thuốc gồm Ciprobay 500mg, Acemol 325mg, Lactomin plus. Tôi đề nghị cho đi thử phân, ông đồng ý cho đi thử theo yêu cầu. Khi có kết quả (HC: (+), BC: (+), TẠP KHUẨN (+)) thì bác sĩ đã hết giờ, vì vậy tôi gọi điện cho bác sĩ báo kết quả thử phân (cũng may đã xin số điện thoại của ông), bác sĩ này nói uống thuốc theo đơn đã kê.

Về nhà, tôi cho cháu uống liền, khi cháu vừa hút vào (do cháu còn nhỏ nên thuốc phải nghiền ra và hoà với nước đường) là ói ra hết, miệng luôn kêu "thuốc đắng quá mẹ ơi" và nhất định không chịu uống nữa, dù tôi dỗ dành, doạ nạt đủ thứ. Quả thật thuốc này rất đắng, nhất là như con tôi, hầu như chưa uống thuốc đắng như thế bao giờ. Xót ruột, tôi gọi ông bác sĩ và xin đổi thuốc khác, ông vui vẻ cho đổi loại thuốc khác. Sau hai ngày uống, bệnh thuyên giảm một chút.

Với suy nghĩ tìm cho được bác sĩ chuyên khoa Tiêu hoá, tôi lại tìm một bác sĩ thuộc khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi đồng II (bác sĩ thứ tám) qua lời giới thiệu của một người quen. Sau khi xem xét như các bác sĩ khác và hỏi thăm tình hình sử dụng thuốc, ông nói cứ sử dụng tiếp theo chỉ dẫn của bác sĩ thứ bảy và cho thêm một loại thuốc nếu cháu còn tiêu chảy. Ngày hôm sau, cháu vẫn không bớt đau bụng.

Nếu bạn đã có con, chắc bạn hiểu tâm trạng tôi lúc này. Chưa kể trong thời gian này, ba chồng tôi phải cấp cứu trong bệnh viện và ông cũng suýt chết vì sự tắc trách của nhân viên y tế (ông bị hạ huyết áp mà nhân viên y tế lại cho uống thuốc hạ huyết áp, may mà má chồng tôi là bác sĩ nên không cho uống). Người tôi căng như dây đàn, mọi nguồn lực gần như đã sử dụng hết, tôi muốn gục xuống vì mệt và lo lắng.

Sau những cố gắng tuyệt vọng, cuối cùng tôi cũng tìm được bác sĩ chuyên khoa Tiêu hoá (bác sĩ thứ chín): bác sĩ Hoàng Lê Phúc, phòng mạch 385B Cách Mạng Tháng Tám, Q.10, qua lời giới thiệu của một bác sĩ chuyên khoa Da liễu. Tại đây, sau khi xem kết quả xét nghiệm phân và siêu âm, ông khẳng định: "con chị bị kiết lỵ và phải uống Ciprobay".

Khi nghe tôi nói về thuốc đắng cũng như những khó khăn trong việc cháu uống thuốc, ông nói: "Đắng cũng phải uống, có ói ra cũng phải uống vì đây là thuốc đặc trị cho bệnh này". Thấy ông quả quyết, tôi cũng chùn lòng. Có lẽ nét mặt tôi quá rầu rĩ nên ông nói thêm: "Chị về cho cháu uống, nếu uống đủ và đúng liều thì chiều mai cháu sẽ bớt đau bụng và phân sẽ không còn lỏng nữa".

Người ta nói, có bệnh thì vái tứ phương. Tôi vái tới tám ông rồi, thôi thì nhắm mắt theo nốt ông này! Nhưng vấn đề làm sao cho cháu uống. Tối hôm đó, sau khi khám ông bác sĩ thứ chín về, chồng tôi ngồi suy nghĩ, miệng lẩm bẩm: "Muốn nó uống thì thuốc phải không đắng, mà thuốc (này) muốn trị hết bệnh thì phải đắng, vậy là gặp phải mâu thuẫn vật lý rồi". Trong lúc tôi loay hoay chuẩn bị cho cha con nó bữa cơm tối thì chồng tôi mặt hớn hở chạy xuống nói: "Anh vừa trúng số, thằng bé uống thuốc rồi".

Còn niềm vui nào lớn hơn nữa khi con uống được thuốc có nghĩa là hết bệnh, có nghĩa là không phải vào bệnh viện (vì ông bác sĩ thứ chín nói: "nếu không uống thì phải nhập viện và chích một loại thuốc, loại thuốc này không chích tại nhà được"). Bạn đã bao giờ có con hoặc cháu nằm ở khoa Tiêu hoá bệnh viện Nhi đồng I chưa? Đó là cảnh có từ hai đến ba đứa bé nằm chung một giường, những đứa bé này không điều khiển được việc đi cầu của mình, nghĩa là lúc những đứa bé này đi cầu là phân văng tung toé... Một hình ảnh mà mỗi lần nghĩ tới mà phát sợ!

Sáng hôm sau, tới đợt uống thuốc mới thì cháu chỉ uống có hai phần ba lượng thuốc, mặc dù vẫn áp dụng cách bọc như tối hôm trước. Sợ không đủ liều, tôi nghiền thuốc rồi trộn với mật ong và đè cháu ra để đổ vào miệng, vừa làm vừa sợ cháu bị sặc (vì cháu vừa khóc vừa giãy giụa). Mà các bạn biết, chuyện sặc ở con nít mà không cứu kịp thời là cầm chắc cái chết. Thuốc đổ được vào miệng thì cháu lại phun ra hết. Thế là tôi hết cách.

Trong tuyệt vọng, tôi bế cháu trở lại bác sĩ Hoàng Lê Phúc vào buổi chiều hôm đó để nói về những triệu chứng bệnh mới xuất hiện của cháu đồng thời hỏi thăm việc cho cháu nhập viện. Sau khi giải thích về những triệu chứng của cháu, ông yêu cầu chồng tôi cho cháu uống thuốc trước mặt ông. Vẫn những cục thuốc nhỏ được bọc sẵn, cháu bỏ vào miệng, uống nước và... nhè trở ra. Mặc bác sĩ dọa chích nhưng cháu nhất định không uống. Do đông người bệnh chờ nên bác sĩ nói ra ngoài, xong việc ông sẽ xử lý. Ra ngoài chờ hơn nửa tiếng, hai vợ chồng năn nỉ, dỗ dành, hứa mua những thứ mà cháu thích nhưng không uống là không uống!

Trở lại phòng bác sĩ, sau vài câu vấn an cháu, ông yêu cầu uống thuốc lại. Thế là chạy ra ngoài, mua thuốc, nhờ người bán nghiền nhỏ rồi pha với sữa cho cháu uống. Cháu hút một nửa, uống một ngụm nước và há miệng ra cho bác sĩ thấy mình đã nuốt. Bác sĩ khen và đề nghị bắt tay, cháu giơ tay bắt. Điều đó được lập lại cho đến khi thuốc uống xong. Vợ chồng tôi mừng muốn khóc vì gặp được bác sĩ không chỉ chẩn đoán đúng bệnh mà còn giúp chúng tôi cho cháu uống thuốc. Sau năm ngày điều trị tại nhà, cháu trở lại bình thường mà vợ chồng tôi cũng trở lại "bình thường".

Khi ngồi tâm sự với chồng tôi về những gì đã xảy ra đối với con, tôi hỏi làm thế nào anh nghĩ ra cách bọc những mẩu thuốc bằng bánh tráng nhúng nước, chồng tôi nói: "Vì thuốc chỉ uống một phần ba viên mà một phần ba này là lớn đối việc nuốt của con. Để dễ nuốt thì thuốc phải cắt nhỏ, mà cắt nhỏ thì gặp vấn đề làm sao cho thuốc không bị đắng khi bé uống. Ở đây anh gặp mâu thuẫn: thuốc phải không đắng để con có thể nuốt và thuốc phải đắng (vì bản thân thuốc khi làm ra là đắng) thì mới hết bệnh. Để khắc phục mâu thuẫn này cần bọc thuốc bằng một lớp gì đó, nhưng lớp gì đó thì anh chưa nghĩ ra. Sau khi suy nghĩ, anh sử dụng phương pháp Synectics để tìm từ môi trường xung quanh những gì được dùng để bao, bọc, cuốn những cái khác. Thầy anh nói, trước hết nên xem xét những cái gần gũi. Nhà mình hay ăn bánh tráng thế là anh nảy ra ý tưởng dùng bánh tráng". Chồng tôi còn nói thêm, việc mình tìm được bác sĩ giỏi và đúng chuyên khoa cũng là do biết vận dụng phương pháp Synectics.

Thấy tôi có vẻ không hiểu, anh ấy giải thích: "Vợ chồng mình muốn tìm bác sĩ giỏi và thuộc chuyên khoa Tiêu hoá, nhưng mình không biết người đó là ai – đó là bài toán. Để tìm bác sĩ chuyên khoa Tiêu hoá, mình cần tìm bác sĩ giỏi giúp mình. Chữ "giỏi" ở đây không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn giỏi về những mặt khác. Chữ "giúp" ở đây không chỉ là giúp mình chữa bệnh cho con mà còn có nghĩa giúp mình vượt qua khó khăn. Chính điều này mình mới nhớ đến Thạc sĩ, bác sĩ Lê Thị Thanh Trúc. Giữa bác sĩ Trúc và bác sĩ Phúc hẳn có một mối quan hệ nào đó mà nhờ đó mình mới gặp được bác sĩ Hoàng Lê Phúc. Việc giới thiệu của Thạc sĩ, bác sĩ Trúc chính là thông tin giúp mình giải quyết bài toán".

Giờ đây, lòng đã bình an, ngẫm lại chuỗi ngày vừa qua (gần 2 tháng kể từ khi cháu kêu đau bụng) tôi rút ra những bài học sau:

· Các bác sĩ chữa bệnh, trước hết chủ yếu căn cứ vào lời khai của người bệnh hoặc cha mẹ bệnh nhân, do vậy, cần theo dõi, ghi chép những thay đổi bất thường của bé để có thể cung cấp thông tin một cách chính xác. Ví dụ, khi tôi đề nghị cho đi thử phân, bác sĩ hỏi cháu đi phân thế nào, khi biết đi phân bình thường thì họ nói không cần thử. Một chuyện khác nữa, trong thời gian cháu đau bụng, thân nhiệt của cháu trong khoảng 37,5 độ đến 37,8 độ khi về chiều. Tôi cứ tưởng như vậy là bình thường, đến khi cháu hết bệnh, đo lại thì thân nhiệt của cháu là 37,1 độ (đã cộng thêm 0,5 độ sai số của nhiệt kế)

· Nên chủ động đề nghị cho xét nghiệm để có được thông tin chính xác. Điều này rất rõ đối với con tôi. Trong lúc khám ở các bác sĩ trước, khi đề nghị cho xét nghiệm phân thì họ từ chối với lý do có thử cũng không có ích gì. Chỉ đến bác sĩ thứ bảy (lúc đó cháu đau bụng nhiều và đi phân lỏng và có nhớt) mới đồng ý cho xét nghiệm. Rõ ràng nguyên nhân gây ra bệnh của cháu không phải chỉ đến lúc phân đi lỏng mới có.

· Cố gắng tìm cho được bác sĩ thực sự giỏi (chồng tôi nói, họ giỏi thì phép thử của họ ít nên mình vừa bớt lo và con mình nhanh hết bệnh). Tôi nói "cố gắng" vì người giỏi ở bất cứ ngành nghề nào cũng hiếm trong khi xã hội trân trọng người giỏi "hơi" khiêm tốn. Có lẽ vì người giỏi chỉ là thiểu số!

Ở đời không ai biết được chữ ngờ, do vậy, cố gắng sưu tầm trước những địa chỉ đáng tin cậy, để khi có chuyện thì kịp trở tay (chồng tôi nói, đấy là sử dụng nguyên tắc dự phòng).

Cùng nhau luyện tập PPLST

Từ bài toán đăng trên BTSK số 1.2008 (37) và lời giải có được từ phương pháp Synectics đã đăng trên BTSK số 2.2008 (38). Dưới đây giới thiệu một lời giải khác bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hình thái của bạn Minh Sơn.

Để tạo ra các biến thể cho "dụng cụ gắn nắp có joint cao su vào thùng" (hình 1), chúng ta có thể sử dụng phương pháp phân tích hình thái cho từng bộ phận (1), (2), (3) hoặc cho tổ hợp của các bộ phận này.

· (1): Một khung kim loại.

· (2): Bộ phận tác động lực lên đối tượng (bố trí phía trên nắp thùng hoặc bố trí phía dưới đáy thùng). Bộ phận này hoạt động trên nguyên lý Pascal (đòn bẩy thủy lực – hydraulic jack) hoặc nguyên lý đòn bẩy.

· (3): Không gian bố trí thùng cần gắn nắp.

Giả sử, nếu áp dụng phương pháp phân tích hình thái cho bộ phận (2) – bộ phận tác động lực lên đối tượng thì bảng ma trận hình thái của bộ phận (2) được xây dựng như sau:

S

T

T Bộ phận-chức năng chính 1 2 3 4 5 6 7 8

A. Nguồn tạo lực Cơ Âm Nhiệt Hóa Quang Điện Từ Điện từ

B. Hướng tác động Từ dưới lên

Từ trên xuống

Theo phương ngang

C. Cách tác động Trực tiếp Trục vít Đòn bẩy

D. Đối tượng trung gian truyền lực từ bộ phận (2) đến thùng Rắn Lỏng Dẻo Khí

Với bảng ma trận hình thái như trên, bộ phận tác động lực lên đối tượng sẽ có: 8×3×3×4=288 biến thể.

Chúng ta có thể xem qua một số biến thể của bộ phận (2) được rút ra từ bảng ma trận hình thái nêu trên.

1)Lời giải đã có trên Hình 1 có công thức hình thái là: A1-B2-C3-D1.

2)Nếu sử dụng hệ thống trục vít–bánh răng như ở Hình 2 để tạo lực nén thì công thức hình thái của lời giải này sẽ là: A1-B2-C2-D1.

3)Nếu sử dụng kích điện (electric jack) (Hình 3) thay cho kích thủy lực (hydraulic jack), công thức hình thái của lời giải này sẽ là: A6-B2-C3-D1.

4)Nếu sử dụng kích điện từ (electromagnetic jack), công thức hình thái của lời giải này sẽ là: A8-B2-C3-D1.

Bạn nào quan tâm đến nguyên lý hoạt động của kích điện và kích điện từ, có thể tham khảo các patent số US7401764B1, EP0078740A1...

5)Các bạn có thể hình dung công thức hình thái A2-B2-C1-D3, A3-B2-C1-D3 , A4-B2-C1-D3 sẽ hoạt động như thế nào không?

BÀI TOÁN KỲ NÀY:

Nút nhựa bình ắc qui (battery) gồn hai phần: phần vỏ và phần lõi (xem bản vẽ thiết kế). Sau khi sản xuất, công nhân phải đặt phần lõi vào trong phần vỏ rồi dùng một cây gỗ đóng chặt lại, quá trình này có năng suất thấp. Do đó, tôi thiết kế máy đóng nút nhựa bình ắc qui như hình chụp dưới đây và nó hoạt động như sau:

Sau khi phần lõi đặt vào trong phần vỏ, chúng được trượt theo đường dẫn đến đầu đóng, ở đây, quá trình đóng tự động được thực hiện nhờ hệ thống khí nén. Tuy máy có năng suất đóng cao nhưng có một vấn đề chưa giải quyết được: công nhân vẫn phải dùng tay đặt phần lõi vào trong phần vỏ. Làm thế nào để tự động hoá quá trình này?

Nguyễn Đức Toản, K.313

Bài toán và ý tưởng

Xin giới thiệu một số ý tưởng của sinh viên khoa Mỹ thuật công nghiệp, Đại học dân lập Văn Lang thu được bằng phương pháp Đối tượng tiêu điểm.

Đa dạng

KTG và các số liệu trong thế giới sinh học

Minh Nguyên

Tính logic của tưởng tượng phỏng sinh học có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng những "dữ kiện sinh học chính xác", vì chính tính chính xác này sẽ làm nền tảng cho tính hợp lý của trí tưởng tượng. Các số liệu, dữ kiện sinh học chính xác, bản thân nó, giữ vai trò xác lập những giới hạn sinh học chưa thể vượt qua ở các đối tượng sinh học. Cũng có khi, giới hạn đó là giới hạn trong nhận thức về các đối tượng sinh học. Dù là giới hạn gì đi nữa, bằng việc sử dụng các dữ liệu sinh học chính xác, nhà sáng tạo sẽ hình dung được rõ ràng, đầy đủ những giới hạn quen thuộc, và nếu, sử dụng chúng kết hợp với toán tử KTG, nhà sáng tạo sẽ dễ dàng mở rộng một cách định hướng những giới hạn này mà không bị nhầm lẫn ...

A) Những con số trong thế giới động vật

4a. Kích thước tối đa của một số đại diện. Lưu ý: D=đường kính, L=chiều dài, W=chiều rộng, S=chiều dài giữa 2 đầu mút.

Nhóm nguyên sinh động vật Protozoa Kích thước tối đa

Trùng đồng tiền (Nummulites) D 32 cm

Nhóm Bọt biển Sponges

Bọt biển (Spheciospongia) D 2 m

Nhóm Sứa Cnidaria

Thủy tức (Brachiocerianthus imperialis) L 2,20 m

Sứa (Cyanea arctica) D 2 m

Hải quỳ (Stoichactis sp.) D 1,50 m

Sứa phiến lược (Cestus veneris) L 1,50 m

Sứa phát sáng (Aequorea sp.,) D 40 cm

San hô (Fungia sp.) D 25 cm

Nhóm giun dẹp Flatworms

Sán dây (Diphyllobothrium latum) L 15 m

Sán lá (Nematobothrioides histoidii) L 6-8 m

Giun dẹp (Turbellaria terrestrial) L 60 cm

Trùng dải băng Ribbon worms

Trùng dây (Lineus longissimus) L 60 m

Nhóm luân trùng Rotifers

Luân trùng (Seison sp.) L 3 mm

Nhóm giun tròn Roundworms

Giun tròn (Placentonema gigantissima) L 8,40 m

Nhóm nhuyễn thể Mollusks

Mực khổng lồ (Architeuthis sp.) L 18 m

Trai khổng lồ (Tridacna gigas) L 1,35 m

Ốc (Semifusus sp.) L 60 cm

Nhóm giun đốt Segmented worms

Giun nhiều tơ (Eunice gigantea) L 3 m

Giun ít tơ (Megascolides australis) L 3 m

Leeches (Haementeria ghiliani) L 30 cm

Nhóm chân đốt Arthropods

Cua nhện Nhật Bảnn (Macrocheira kaempferi) L 60 cm (không tính chân)

W 29 cm (phần mai)

S 3 m (tính cả chân)

Cuốn chiếu (Graphidostreptus gigas) L 28 cm

Rết (Scolopendra gigantea) L 26,5 cm

Bò cạp (Pandinus imperator) L 18 cm

Nhện tarantula (Teraphosa leblondi) L 9 cm (phần thân)

Nhóm rêu thủy sinh Ectoprocta

Rêu thủy sinh (Pectinatella gelatinosa) L 2 m (sống thành cụm, chiều dài cụm)

Rêu thủy sinh (Nolella alta) L 4,6 mm

Nhóm trùng hang Acorn Worms

Trùng hang (Balanoglosssus gigas) L 2,50 m

Nhóm da gai Echinoderms

Sao lông (Metacrinus superbus) L 2 m

Dưa biển (Synapta maculata) L 2 m

D 5 cm

Dưa biển (Stichopus variegatus) L 1 m

D 21 cm

Sao biển (Freyella remex) L 45 cm

S 1 m

Sao rắn (Gorgonocephalus stimpsoni) L 70 cm (cánh sao)

D 14,3 cm (phần thân)

Cầu gai (Sperosoma giganteum) D 32 cm

4b. Kích thước tối đa của côn trùng. Lưu ý: L=chiều dài, WS=sải cánh

Côn trùng Insects

Phù du (Euthyplocia sp.) L 5 cm

WS 8 cm

Chuồn chuồn (Megaloprepus coerulatus) L 15 cm

WS 18 cm

Bọ đá (Diamphipnoa helgae) L 4 cm

WS 11 cm

Xâu tai (Titanolabis colossa) L 5 cm

Bọ ngựa (Toxodera sp.) L 16 cm

Gián (Megaloblatta longipennis) L 9,5 cm

WS 17 cm

Mối (Macrotermes goliath) L 2,2 cm

WS 8,8 cm

Mối chúa (Bellicositermes natalensis) L 14 cm

Bọ que (Pharnacia serratipes) L 33 cm

Châu chấu (Saga syriaca) L 10 cm

Châu chấu (Pseudophyllus colossus) WS 20 cm

Cào cào (Tropidacris latreillei) L 12 cm

WS 23 cm

Bọ cánh khác (Belostoma grande) L 11 cm

Ve (Pomponia imperatoria) L 7 cm

WS 18 cm

Bọ cánh lớn (Sialis flavilatera) WS 3,8 cm

Bọ cổ rắn (Acanthocorydalus kolbei) WS 16 cm

Bọ cánh cứng (Titanus giganteus) L 15 cm

Bọ cánh kép (Pepsis hero) L 6 cm

WS 11 cm

Bọ cánh lưới (Palpares voeltzkowi) WS 15,7 cm

Bướm đêm (Thysania agrippina) WS 32 cm

Bướm ma (Coscinocera hercules) Diện tích cánh 300 cm2

Bọ cánh đôi (Mydas hero) L 6 cm

WS 10 cm

Bọ chét (Histrichopsylla talpae) L 6 mm

4c. Kích thước của các bầy (đàn) côn trùng.

Loại côn trùng Số cá thể / bầy (đàn)

Mối nhiệt đới (Bellicositermes) 3.000.000

Kiến ngựa (Formica rufa) 500.000 - 800.000

Kiến cắt lá (Atta) 600.000

Kiến quân đội (Anomma) 100.000

Mối đất phương Tây (Reticulitermes) 100.000

Ong mật 40.000 - 80.000

Kiến lửa đồng cỏ (Lasius flavus) 20.000

Ong bắp cày Đức (Paravespula germanica) 5.500

Ong bắp cày 700 - 1.500

Ong ngệ 500 - 2.000

Ong bắp cày giấy (Polistes) 140

Kiến càng (Promyrmecia aberrans) 12

4d. Kích thước và trọng lượng tối đa của một số cá chọn lọc.

Chiều dài Khối lượng

Cá mập voi (Whale shark) 15,0 m - 18,0 m 10.000 kg

Cá nhám nắng (Basking shark) 14,0 m 4.000 kg

Cá mập hung dữ (Man-eating shark) 5,0 m - 12,0 m 3.000 kg

Cá đao (Sawfish) 6,0 m - 10,0 m 2.300 kg

Cá mập xám (Greenland shark) 3,0 m - 7,0 m 2.250 kg

Cá voi trắng (Beluga) 4,0 m - 9,0 m 1.600 kg

Cá đuối khổng lồ (Manta Birostris) 4,0 m 1.600 kg

Sải cánh hai vây của cá đuối Manta dài đến 7,0 m

Cá cờ Ấn độ (Black marlin) 4,5 m 900 kg

Cá thái dương (Ocean sunfish) 3,0 m 900 kg

Cá ngừ vây xanh (Thunnus thynnus) 3,0 m - 5,0 m 820 kg

Cá mập xanh (Blue shark) 3,0 m - 6,0 m 800 kg

Cá mập hổ (Tiger shark) 4,0 m - 6,0 m 800 kg

Cá kiếm (Swordfish) 3,0 m - 6,0 m 600 kg

Cá mú (Grouper) 2,0 m - 3,5 m 420 kg

Cá hải tượng (Arapaima) 2,5 m - 4,5 m 400 kg

Cá bơn (Halibut) 2,0 m - 4,7 m 330 kg

Cá trê biển hồ (Wels catfish) 2,0 m - 5,0 m 300 kg

Cá tuyết (Murray cod) 1,0 m – 8,0 m 95 kg

Cá chình Âu (Conger conger) 1,5 m - 3,0 m 70 kg

Cá chó (Esox sp.,) 1,0 m - 1,5 m 70 kg

Cá vây tay (Latimeria) 1,5 m 52 kg

Cá nhồng lớn (Barracuda) 1,5 m - 3,0 m 50 kg

Cá phổi Australian (Lungfish) 0,6 m - 1,8 m 50 kg

Cá hồi (Salmon) 0,9 m - 1,5 m 36 kg

Cá chép (common Carp) 0,4 m - 1,2 m 30 kg

Cá vược đầu nhọn (Zander) 1,2 m 18 kg

Lươn (Eel) (con đực) 150 cm 6 kg

Cá vược (Perca fluviatilis) 0,3 m - 0,45 m 2.56 kg

Cá chép Tinca (Tench) 0,4 m - 0,70 m 2 kg

Lươn (Eel) (con cái) 50 cm 1 kg

Cá mút đá (Sea lamprey)) 1,0 m 1 kg

Cá bống lùn (Pandaka pygmaea) 11 mm 0,2g

4e. Chiều dài tối đa của một số lưỡng thê chọn lọc.

Nhóm giông Caecilians và Salamanders (caudates)

Lưỡng thê không chi (Caecilians) 150 cm

Giông khổng lồ (Giant salamander) 150 cm

Lươn Congo (Amphium) 100 cm

Lưỡng thê giống lươn (Greater siren) 100 cm

Giông Axolotl (Ambystoma mexicanum) 33 cm

Giông lửa (Fire salamander) 20 cm

Giông có mào (Northern crested newt) 14 cm

Sa giông trơn (Smooth newt) (con đực) 11,1 cm

Kỳ giông (Alpine newt) (con cái) 11 cm

Sa giông trơn (Smooth newt) (con cái) 9,5 cm

Sa giông chân màng (Palmate newt) (con cái) 9,2 cm

Kỳ giông (Alpine newt) (con đực) 8 cm

Sa giông chân màng (Palmate newt) (con đực) 7,5 cm

Giông lùn Mexico (Mexican pygmy salamander) 4 cm

Nhóm lưỡng thê không đuôi Anura

Ếch khổng lồ (Conraua goliath) 40 cm

Cóc khổng lồ Colombia 30 cm

Cóc mía (Giant neotropical toad) 20 cm

Ếch hồ (Marsh or Lake frog) 15 cm

Cóc thông thường (Common toad) (con cái) 13 cm

Chàng hiu Cuba (Osteopilus septentrionalis) 13 cm

Ếch thông thường (Common frog) 10 cm

Ếch Agile (Rana dalmatina) 8 cm

Cóc chân thuổng (spadefoot toad) (con cái) 8 cm

Cóc thông thường (Common toad) (con đực) 8 cm

Cóc xanh (Bufo viridis) 8 cm

Cóc sọc vàng (Natterjack toad) 7 cm

Cóc chân thuổng (spadefoot toad) (con đực) 6,5 cm

Ếch đồng (Moor frog) 6,5 cm

Cóc mụ (Alytes) 5 cm

Chàng hiu (Tree frog) 5 cm

Cóc bụng vàng (Yellow-bellied toad) 4,5 cm

Ếch chuối Cuba (Almiqui) 1 cm

4f. Chiều dài và khối lượng tối đa của một số bò sát chọn lọc

Nhóm rùa Turtles Chiều dài Khối lượng

Rùa mai da (Dermochelys coriacea) 3,00 m 800 kg

Rùa khổng lồ Seychelles (Geochelone gigantea) 1,25 m 250 kg

Rùa lục (Chelonia mydas) 1,40 m 200 kg

Rùa sấu (Macroclemys temmincki) 0,75 m 100 kg

Nhóm cá sấu Crocodilians

Cá sấu nước lợ (Crocodylus porosus) 8,50 m

Cá sấu sông Orinoco (Crocodylus intermedius) 7,20 m

Cá sấu Nam Á (Gavialis gangeticus) 7,11 m

Cá sấu sông Nile (Crocodylus niloticus) 6,70 m 1.000 kg

Cá sấu Mỹ (Alligator mississipiensis) 5,84 m

Nhóm thằn lằn Lizards

Thằn lằn Komodo (Komodo dragon) 3,00 m 165 kg

Thằn lằn khủng long (Iguana iguana) 2,20 m

Thằn lằn biển (Amblyrhynchus cristatus) 1,75 m

Thằn lằn ngọc (Jeweled lizard) 0,80 m

Thằn lằn lục (Western green lizard) 0,45 m

Thằn lằn không chân (Anguis fragilis) 0,45 m

Thằn lằn đụn cát (Lacerta agilis) 0,32 m

Thằn lằn New Zealand (Sphenodon punctatum) 0,29 m 1 kg

Thằn lằn vách (Lacerta muralis) 0,19 m

Thằn lằn thông thường (Common lizard) 0,16 m

Tắc kè không giác bám (Lizard-toed gecko) 0,04 m 2 g

Tắc kè lùn (Jaragua sphaero) 0,016 m

Nhóm rắn Snakes

Trăn lưới Đông Nam Á (Python reticulatus) 10,00 m

Trăn nước Nam Mỹ (Eunectes sp.,) (Anaconda) 9,60 m 120 kg

Hổ mang chúa (Ophiophagus hannah) 5,58 m

Rắn hổ đen châu Phi (Dendroaspis polylepis) 4,00 m

Trăn xiết Nam Mỹ (Boa constrictor) 4,50 m 60 kg

Rắn độc Bushmaster (Lachesis mutus) 3,75 m

Rắn chuông kim cương (Crotalus atrox) 2,58 m 10 kg

Rắn Aesculapius (Elaphe longissima) 1,80 m

Rắn nước châu Âu (Natrix natrix) 1,50 m

Rắn xúc sắc (Dice snake) 1,00 m

Rắn độc nanh xếp (Viper) 0,80 m

Rắn vẩy trơn (Coronella austriaca) 0,75 m

Rắn mù (Leptotyphlops bilineata) 0,11 m

4g. Khối lượng và sải cánh của một số chim chọn lọc

Nhóm chim Bird Khối lượng Sải cánh

Đà điểu (Struthio camelus) 150 kg

Thiên nga câm (Cygnus olor) 22,5 kg 260 cm

Chim khủng Bustard (Otis tarda) (con cái) 22 kg 240 cm

Chim khủng Bustard (Otis tarda) (con đực) 5 kg

Kền kền đen Âu Á (Aegypius monachus) 14 kg 287 cm

Kền kền Andes (Vultur gryphus) 11,3 kg 290 cm

Kền kền cựu thế giới (Gyps fulvus) 8,2 kg 240 cm

Hải âu lãng du (Diomedea exulans) 8 kg 320 cm

Ưng đuôi trắng (Haliatus albicilla) 6,7 kg 255 cm

Ưng vàng (Aquila chrysaetos) 6 kg 230 cm

Gà rừng châu Âu (Tetrao urogallus) 6 kg 130 cm

Cò Marabou (Leptoptilus crumeniferus) 5 kg 300 cm

Cò (Ciconia ciconia) 4,4 kg 220 cm

Ưng hoàng đế (Imperial eagle) 3,5 kg 215 cm

Cú đại bàng (Bubo bubo) 3,2 kg 200 cm

Chim điên (Morus bassanus) 3 kg 180 cm

Mòng biển lưng đen (Larus marinus) 2,2 kg 175 cm

Ó cánh rộng (Accipiter gentilis) 2 kg 118 cm

Quạ đen (Corvus corax) 1,25 kg 125 cm

Ó cánh ngắn (Buteo buteo) 1,2 kg 140 cm

Quạ châu ÂU (Corvus frugilegus) 670 g 90 cm

Kền kền Mỹ (Coragyps atratus) 600 g 100 cm

Mỏ nhát Âu Á (Numenius arquata) 600 g 100 cm

Cú hung (Strix aluco) 500 g 100 cm

Bồ câu đồng (Columba palumbus) 500 g 75 cm

Dẽ gà (Scolopax rusticola) 400 g 58 cm

Gõ kiến đen (Black woodpecker) 315 g 75 cm

Cú kho (Tyto alba) 300 g 95 cm

Cắt tí hon (Falco sparverius) 300 g 76 cm

Bồ câu đá (Columba livia) 300 g 63 cm

Chim te te (Vanellus vanellus) 200 g 70 cm

Giẻ cùi Âu Á (Garrulus glandarius) 195 g 55 cm

Gõ kiến đốm (Dendrocopos major) 95 g 48 cm

Cú lùn Âu Á (Otus scops) 60 g 40 cm

Cun cút ức xanh (Coturnix chinensis) 45 g

Én châu Âu (Apus apus) 43 g 35 cm

Sẽ ngô lam (Parus caeruleus) 12 g 20 cm

Tước mào vàng (Regulus satrapa) 4 g 16 cm

Chim vo vo (Mellisuga helenae) 1,6 g 7,5 cm

4g. Chiều dài/cao (cm) và khối lượng tối đa của một số thú chọn lọc (trừ trường hợp cá voi, số liệu trong bảng là chiều dài không tính đuôi)

Cá voi xanh (Balaenoptera musculus) 3.300 136.000 kg

Cá voi Greenland (Balaena mysticetus) 2.100 100.000 kg

Cá voi có vây lưng (Balaenoptera physalus) 2.500 76.000 kg

Cá nhà táng (Physeter macrocephalus) 2.000 53.000 kg

Cá voi sát thủ (Orcinus orca) 950 6.350 kg

Voi phi châu (Loxodonta africana) 750 6.000 kg

Voi á châu (Elephas maximus) 640 5.000 kg

Hải cẩu voi (Mirounga 650 3.600 kg

Tê giác trắng (Ceratotherium simum) 400 3.600 kg

Hà mã (Hippopotamus amphibius) 450 3.200 kg

Tê giác đen (Diceros bicornis) 375 2.000 kg

Tê giác một sừng (Rhinoceros unicornis) 420 2.000 kg

Voi biển (Odobenus rosmarus) 375 1.500 kg

Hươu cao cổ (Giraffa camelopardalis) 580 (chiều cao) 1.200 kg

Gấu xám (Ursus arctos horribilis) 300 1.200 kg

Bò rừng Bison (Bison bison) 300 1.000 kg

Linh dương (Taurotragus oryx) 345 1.000 kg

Ngựa thồ Belgium (Belgian Heavy Draft Horse) 1.000 kg

Polar bear (Ursus maritimus) 251 1.000 kg

Water buffalo (Bubalus bubalis) 300 1.000 kg

Nai sừng tấm (Alces alces) 310 800 kg

Lạc đà (Camelus sp.,) 345 650 kg

Ngựa (Equus caballus) 500 kg

Tiger (Felis tigris) 300 350 kg

Heo rừng (Sus scrofa) 180 350 kg

Hươu Bắc Mỹ (Cervus elaphus) 265 340 kg

Tuần dương (Rangifer tarandus) 220 315 kg

Dã nhân Gorilla (Gorilla gorilla) 175 (chiều cao) 275 kg

Sư tử (Panthera leo) 190 250 kg

Cá heo Dolphin (Delphinus delphis) 360 200 kg

Dê núi (Capra sp.,) 170 150 kg

Hải cẩu (Phoca vitulina) 200 100 kg

Đười ươi (Pongo pygmaeus) 150 (chiều cao) 100 kg

Báo Leopard (Felis leopardus) 150 80 kg

Chó sói (Canis lupus) 150 75 kg

Tinh tinh (Pan troglodytes) 170 (chiều cao) 70 kg

Chuột túi đỏ (Megaleia rufa) 160 70 kg

Sơn dương (Rupicapra rupicapra) 130 62 kg

Khỉ đầu chó (Papio sp.,) 114 54 kg

Hoẵng (Capreolus capreolu) 140 50 kg

Chồn Glutton (Gulo gulo) 87 35 kg

Hải ly (Castor sp.,) 100 30 kg

Vượn (Hylobates sp.,) 90 22,5 kg

Chồn lửng Badger (Meles meles) 85 20 kg

Gấu túi Koala (Phascolarctos cinereus) 80 16 kg

Cáo (Vulpes sp.,) 90 10 kg

Chuột núi Marmot (Marmota sp.,) 73 8 kg

Lười (Bradypus sp.,) 60 5 kg

Thỏ (Oryctolagus cuniculus) 45 2 kg

Chuột xạ (Ondatra zibethica) 36 1,5 kg

Chuột lang (Cavia cobaya) (Guinea Pig) 33 1,4 kg

Nhím (Erinaceus sp.,) 30 1,2 kg

Chuột hang châu Âu (Cricetus cricetus) 34 500 g

Squirrel (Sciurus sp.,) 25 480 g

Chồn Ermine (Mustela erminea) 29 450 g

Chuột cống (Rattus norvegicus) 26 400 g

Chuột đồng bờ sông (Arvicola terrestris) 19 180 g

Chuột hang Syria (Mesocricetus auratus) 18 130 g

Chồn nhí cựu thế giới (Mustela nivalis) 23 130 g

Chuột sóc (Muscardinus avellanarius) 19 120 g

Chuột chũi (Scalopus aquaticus) 17 120 g

Vượn cáo (Cheirogaleus major) 13 60 g

Chuột đồng (Microtus pennsylvanicus) 12 50 g

Chuột nhà (Mus musculus) 12 30 g

Chuột tí hon (Baiomys taylori) 6.6 6 g

Chuột chù Etruscan (Sorex sp.,) 4 2 g